Thời kì dựng nước
I. Giai đoạn lịch sử
1. Xích Quỷ (2879–2524 TCN)
Hồng Bàng thị (
chữ Hán
Chữ Hán, còn gọi là Hán tự, Hán văn, chữ Nho, là loại
văn tự ngữ tố– âm tiết ra đời ở Trung Quốc vào thiên niên kỷ thứ hai
trước Công Nguyên. Ngôn ngữ đầu tiên được viết bằng chữ Hán là
tiếng Hán thượng cổ, một ngôn ngữ cổ đã tuyệt diệt. Tiếng Hán
thượng cổ viết bằng chữ Hán thường.
: 鴻龐氏 ) hay Thời đại Hồng Bàng là một giai đoạn lịch sử thuộc
thời đại thượng cổ của
lịch sử Việt Nam.
Lịch sử Việt Nam nếu tính từ lúc có mặt con người sinh sống thì đã
có hàng vạn năm trước Công Nguyên, còn tính từ khi cơ cấu nhà nước
được hình thành thì vào khoảng từ năm 700 năm trước công nguyên.
Thời đại này dựa nhiều trên các
truyền thuyết
Truyền thuyết là một thể loại tự sự dân gian kể về sự kiện
và nhân vật lịch sử (hoặc có liên quan đến lịch sử), phần lớn theo
xu hướng lí tưởng hóa có yếu tố kì ảo, qua đó thể hiện sự ngưỡng mộ
và tôn vinh của nhân dân đối với những người có công với đất nước,
dân tộc hoặc cộng đồng cư dân của một vùng , truyện kể ở những tác phẩm như
Lĩnh Nam chích quái[1]
Lĩnh Nam chích quái là một tập hợp các truyền thuyết và cổ
tích dân gian Việt Nam được biên soạn vào khoảng cuối đời nhà Trần.
và được hợp thức hóa trở thành một giai đoạn lịch sử qua
Đại Việt sử ký toàn thư[2]Đại Việt sử ký toàn thư (大越史記全書), đôi khi gọi tắt là
Toàn thư, là bộ quốc sử viết bằng Hán văn của Việt Nam, viết
theo thể biên niên, ghi chép lịch sử Việt Nam từ thời đại truyền
thuyết Kinh Dương Vương năm 2879 TCN đến năm 1675 đời vua Lê Gia
Tông nhà Hậu Lê.
, cuốn sử thư đã đưa Hồng Bàng thị làm Kỷ đầu tiên.
Niên đại
Hình 1: Ảnh bản đồ Xích Quỷ
Theo Đại Việt Sử ký Toàn thư:
Đế MinhĐế Minh (chữ Hán: 帝明) là một nhân vật mang tính truyền
thuyết của vùng Đông Á. Theo Đại Việt Sử ký Toàn thư, chép
tại Kỷ Hồng Bàng Thị thì ông là cháu ba đời của Viêm Đế họ Thần
Nông. Ông là cha của Đế Nghi. Sau này nhân đi tuần phương nam, đến
Ngũ Lĩnh lấy con gái Vụ Tiên, sinh ra Lộc Tục (Kinh Dương Vương). Đế
Minh thấy Lộc Tục thông minh lanh lợi định truyền ngôi cho nhưng Lộc
Tục không chịu nên ông đã chia đất nước làm 2 phần lấy sông Dương Tử
làm giới tuyến, phía bắc giao cho Đế Nghi còn phía nam giao cho Lộc
Tục gọi là nước Xích Quỷ.
là cháu ba đời của vua
Thần Nông
Thần Nông là một vị thần trong thần thoại. Ông cũng được xem là thuỷ
tổ của họ Hồng Bàng trong truyền thuyết của Việt Nam
, đi tuần thú phương Nam, đến núi
Ngũ Lĩnh
Ngũ Lĩnh là tên loạt dãy núi ở vùng ranh giới các tỉnh Hồ Nam, Giang
Tây, Quảng Đông, Quảng Tây của Trung Quốc. Nhóm núi trải dài 600 km
từ Tây sang Đông trong khu vực từ vĩ tuyến 24 đến vĩ tuyến 26, ngăn
cách vùng Lưỡng Quảng với phần lãnh thổ phía nam của vùng Giang
Nam.
(nay thuộc tỉnh Hồ Nam, Trung Hoa) gặp một nàng tiên, lấy nhau đẻ ra
người con tên là
Lộc TụcKinh Dương Vương (chữ Hán: 涇陽王, 2919 TCN - 2792 TCN) là nhân vật
truyền thuyết, ông là con của Đế Minh,Kinh Dương Vương (tên húy là
Lộc Tục) thuộc dòng dõi vua Thần Nông vốn được suy tôn là thủy tổ
của người Bách Việt. Sử chép Kinh Dương Vương tên húy là Lộc Tục
(祿續), là người hình thành nhà nước sơ khai đầu tiên vào năm Nhâm
Tuất 2879 TCN, đặt quốc hiệu là Xích Quỷ.
. Sau Đế Minh truyền ngôi lại cho con trưởng là Đế Nghi làm vua phương
Bắc (từ núi Ngũ Lĩnh về phía Bắc), phong cho Lộc Tục làm vua phương Nam
(từ núi Ngũ Lĩnh về phía Nam), xưng là Kinh Dương Vương, quốc hiệu là
Xích QuỷXích Quỷ (chữ Hán: 赤鬼) theo truyền thuyết Việt Nam là một liên
minh quốc gia cổ đại của cư dân Bách Việt, được xem là quốc hiệu đầu
tiên của người Việt vào đầu thời đại Hồng Bàng, thời Kinh Dương
Vương.
. Kinh Dương Vương làm vua Xích Quỷ vào năm Nhâm Tuất 2879 TCN, lấy
Thần Long là con gái
Động Đình Hồ quânHồ Động Đình (chữ Hán: 洞庭湖 ) là một hồ lớn, nông ở phía Đông Bắc
tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc. Đây là hồ điều hòa của Trường Giang.
còn gọi là Vụ Tiên nữ, Long nữ sinh ra
Sùng LãmLạc Long Quân (chữ Hán: 貉龍君), tên húy là Sùng Lãm (崇纜), là một
vị vua truyền thuyết của lịch sử Việt Nam. Theo Đại Việt Sử ký Toàn
thư thì cha ông là Kinh Dương Vương Lộc Tục và mẹ ông là là Thần
Long - con gái của Động Đình Quân.
, nối ngôi làm vua, xưng là Lạc Long Quân. Lạc Long Quân lấy
Âu CơÂu Cơ (2825–2520 TCN) là một nhân vật trong truyền thuyết Việt Nam.
Cùng với các truyền thuyết vĩ đại về Lạc Long Quân, theo đó Âu Cơ là
tổ mẫu của người Việt.
(một nàng tiên ở phương Bắc), sinh một lần trăm người con. Một hôm, Lạc
Long Quân bảo Âu Cơ rằng: "Ta là giống rồng, nàng là giống tiên, thủy
hỏa khắc nhau, chung hợp thật khó". Bèn từ biệt nhau, chia 50 con theo
mẹ về núi, 50 con theo cha về ở miền biển (có bản chép là về Nam Hải),
phong cho con trưởng làm Hùng Vương, nối ngôi vua.
2. Nhà nước Văn Lang (thế kỷ VII–258 TCN)
Văn Lang (
chữ Hán
Chữ Hán, còn gọi là Hán tự, Hán văn, chữ Nho, là loại
văn tự ngữ tố– âm tiết ra đời ở Trung Quốc vào thiên niên kỷ thứ hai
trước Công Nguyên. Ngôn ngữ đầu tiên được viết bằng chữ Hán là
tiếng Hán thượng cổ, một ngôn ngữ cổ đã tuyệt diệt. Tiếng Hán
thượng cổ viết bằng chữ Hán thường.
: 文郎) là nhà nước
Nhà nước, hiểu theo nghĩa pháp luật, là một
tổ chức xã hội đặc biệt của quyền lực chính trị được giai cấp thống trị
thành lập nhằm thực hiện quyền lực chính trị của mình. Nhà nước vì thế
mang bản chất giai cấp. Nhà nước xuất hiện kể từ khi xã hội loài người
bị phân chia thành những lực lượng giai cấp đối kháng nhau; nhà nước
là bộ máy do lực lượng nắm quyền thống trị (kinh tế, chính trị, xã hội)
thành lập nên nhằm mục đích điều khiển, chỉ huy toàn bộ hoạt động của xã
hội trong một quốc gia do vậy nhà nước mang vai trò xã hội, trong đó chủ
yếu để bảo vệ các quyền lợi của lực lượng thống trị. Nhà nước xuất hiện khi
có chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất và xuất hiện những giai cấp đối kháng
nhau do vậy mà nó cần một tổ chức chính trị đứng ra để điều hòa những mâu
thuẫn ấy và để quản lí xã hội.
đầu tiên trong
lịch sử Việt Nam
Lịch sử Việt Nam nếu tính từ lúc có mặt con người sinh sống thì đã
có hàng vạn năm trước Công Nguyên, còn tính từ khi cơ cấu nhà nước
được hình thành thì vào khoảng từ năm 700 năm trước công nguyên.
cai trị bởi các
vua Hùng,
Hùng Vương (chữ Hán: 雄王) hay vua Hùng là cách gọi dành cho
các vị vua nước Văn Lang của người Lạc Việt, tồn tại vào khoảng
thế kỷ VII đến thế kỷ II trước Công nguyên (TCN)
tương ứng với các thời kỳ văn hóa
Đông Sơn,
Văn hóa Đông Sơn là một nền văn hóa cổ đã xuất hiện vào khoảng năm
800 Trước Công Nguyên, từng tồn tại ở một số tỉnh miền Bắc Việt Nam
và Bắc Trung bộ Việt Nam. Nền văn hóa này được đặt tên theo địa phương
nơi các dấu tích đầu tiên của nó được phát hiện
Phùng Nguyên,
Văn hóa Phùng Nguyên là một nền văn hóa tiền sử thuộc sơ kỳ thời đại đồ đồng,
cuối thời đại đồ đá mới, tồn tại từ cuối thiên niên kỷ III TCN, đầu thiên niên
II TCN và kết thúc vào khoảng nửa đầu thiên niên kỷ II TCN[1].
Gò Mun
Văn hóa Gò Mun ước chừng trong khoảng thời gian từ năm 1.000 - năm 700 TCN,
thuộc cuối thời kỳ đồ đồng.
Văn hóa Gò Mun được nhìn nhận như là nền văn hóa tiền văn hóa Đông Sơn. Thời kỳ này,
người Việt cổ đã có những chuyển biến rõ rệt về một xã hội phức tạp và giàu có, thúc
đẩy việc ra đời nhà nước sơ khai của người Việt.
và Đồng Đậu.
Văn hoá Đồng Đậu là nền văn hóa thuộc thời kỳ đồ đồng ở Việt Nam cách ngày nay khoảng
3.000 năm, sau văn hóa Phùng Nguyên, trước văn hóa Gò Mun. Tên của nền văn hóa này đặt
theo tên khu di tích Đồng Đậu ở thị trấn Yên Lạc, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc, nơi
các nhà khảo cổ học đã khám phá ra một nền văn hóa đồ đồng phong phú năm 1962.
Lãnh thổ nhà nước Văn Lang gồm một phần Trung Quốc,
Bắc Bộ
Bắc Bộ (hay còn gọi là Miền Bắc) là một trong 3 miền địa lý của Việt
Nam (gồm Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ). Dân cư Bắc Bộ tập trung đông tại Đồng bằng sông Hồng dù
rằng đồi núi chiếm đa số diện tích Bắc Bộ.
và
Bắc Trung Bộ
Bắc Trung Bộ là phần phía bắc của Trung Bộ Việt Nam từ Thanh Hóa tới
phía bắc Đèo Hải Vân.
ngày nay.
Tên gọi
Hình 2: Ảnh bản đồ nhà nước Văn Lang
Đại Việt sử ký toàn thư
Đại Việt sử ký toàn thư (大越史記全書), đôi khi gọi tắt là
Toàn thư, là bộ quốc sử viết bằng Hán văn của Việt Nam, viết
theo thể biên niên, ghi chép lịch sử Việt Nam từ thời đại truyền
thuyết Kinh Dương Vương năm 2879 TCN đến năm 1675 đời vua Lê Gia
Tông nhà Hậu Lê.
viết thời Lê,
Nhà Lê sơ (chữ Nôm: 茹黎初 chữ Hán: 黎初朝, Hán Việt: Lê sơ triều) là giai đoạn đầu của triều đại quân chủ nhà Hậu Lê. Đây là thời kỳ mà chế độ quân chủ chuyên chế tập quyền trong lịch sử Việt Nam lần đầu tiên đạt đến đỉnh cao của sự phát triển cũng như suy thoái của nó.
Hùng Vương đầu tiên là con của
Lạc Long QuânLạc Long Quân (chữ Hán: 貉龍君), tên húy là Sùng Lãm (崇纜), là một
vị vua truyền thuyết của lịch sử Việt Nam. Theo Đại Việt Sử ký Toàn
thư thì cha ông là Kinh Dương Vương Lộc Tục và mẹ ông là là Thần
Long - con gái của Động Đình Quân.
và
Âu Cơ,Âu Cơ (2825–2520 TCN) là một nhân vật trong truyền thuyết Việt Nam.
Cùng với các truyền thuyết vĩ đại về Lạc Long Quân, theo đó Âu Cơ là
tổ mẫu của người Việt.
cháu Kinh Dương VươngKinh Dương Vương (chữ Hán: 涇陽王, 2919 TCN - 2792 TCN) là nhân vật
truyền thuyết, ông là con của Đế Minh,Kinh Dương Vương (tên húy là
Lộc Tục) thuộc dòng dõi vua Thần Nông vốn được suy tôn là thủy tổ
của người Bách Việt. Sử chép Kinh Dương Vương tên húy là Lộc Tục
(祿續), là người hình thành nhà nước sơ khai đầu tiên vào năm Nhâm
Tuất 2879 TCN, đặt quốc hiệu là Xích Quỷ.
. Đặt Quốc hiệu là Văn Lang,
đóng đô ở
Phong Châu
Phong Châu (峯州) hay bộ Văn Lang (文郎) là kinh đô của nhà nước Văn Lang. Vị trí của kinh đô này nằm trải từ thành phố Việt Trì ngày nay cho tới khu vực Đền Hùng thuộc huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ.
. Theo thuyết này thì mỗi đời tối thiểu 131 năm, do đó nên hiểu là
18 chi (nhánh) hay 18 vương triều.
Ẩm thực
: phổ biến qua sự tích
Lang Liêu,
Hùng Vương thứ VII, tên là Lang Liêu (chữ Hán: 郎僚), cũng gọi Tiết Lang Liêu, là một vị vua theo truyền thuyết của nước Văn Lang trong lịch sử Việt Nam.
làm từ lá dong, gạo nếp, đỗ xanh và thịt lợn.
Phong tục
Xăm mình
: khi từ rừng núi xuống sông ngòi đánh cá, thường bị giao long làm hại nên
người Việt cổ có tục xăm những hình thủy quái trên cơ thể.
Ăn trầu
:
là một phong tục cổ truyền của người Việt Nam có từ thời Hùng Vương. Miếng trầu gắn liền với một câu chuyện cổ tích Trầu Cau đầy tình anh em, vợ chồng.
3. Nhà nước Âu Lạc (257-179 TCN)
Âu Lạc (
chữ Hán
Chữ Hán, còn gọi là Hán tự, Hán văn, chữ Nho, là loại
văn tự ngữ tố– âm tiết ra đời ở Trung Quốc vào thiên niên kỷ thứ hai
trước Công Nguyên. Ngôn ngữ đầu tiên được viết bằng chữ Hán là
tiếng Hán thượng cổ, một ngôn ngữ cổ đã tuyệt diệt. Tiếng Hán
thượng cổ viết bằng chữ Hán thường.
: 甌貉) là nhà nước cổ của người Việt cổ được thành lập tại miền Bắc Việt Nam bởi một nhân vật có thật tên là
An Dương Vương.
An Dương Vương (chữ Hán: 安陽王), tên thật là Thục Phán (蜀泮), là người lập nên nước Âu Lạc, nhà nước thứ hai trong lịch sử Việt Nam sau nhà nước Văn Lang.
Nhà nước này đã thống nhất 2 bộ tộc
Âu Việt
Âu Việt (chữ Hán: 甌越) hay Tây Âu (西甌; bính âm: Xī Ōu) là một tập hợp các bộ lạc miền núi sinh sống tại khu vực mà ngày nay là đông bắc Việt Nam, phía tây tỉnh Quảng Đông và phía bắc tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc, chí ít là từ thế kỷ 3 trước công nguyên.
-
Lạc Việt
Lạc Việt (chữ Hán: 雒越 hoặc 駱越) là một bộ tộc trong nhóm bộ tộc Bách Việt ở khu vực Bắc Bộ Việt Nam.
(Sử gọi là Văn Lang) lại với nhau và đã bảo vệ đất nước thành công trước cuộc xâm lược của nhà Tần.
Kinh đô của Âu Lạc đặt tại
Cổ Loa
Thành Cổ Loa là kinh đô của nhà nước Âu Lạc dưới thời An Dương Vương vào khoảng thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên
và của nhà nước phong kiến dưới thời Ngô Quyền thế kỷ 10 tại vùng đất xã Cổ Loa, huyện Đông Anh, Hà Nội.
,
ngày nay thuộc xã Cổ Loa
Xã Cổ Loa nằm ở phía nam huyện Đông Anh
,
huyện
Đông Anh
Huyện Đông Anh nằm ở phía bắc của thủ đô Hà Nội, nằm cách trung tâm thành phố khoảng 18 km
,
Hà Nội
Hà Nội là thủ đô của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
.
Hình thành
Theo hai bộ sử ký Đại Việt sử ký toàn thư (viết ở thế kỷ 15) và Đại Việt sử lược Đại Việt sử lược (chữ Hán: 大越史略), còn có tên là Việt sử lược (越史略), là một cuốn lịch sử Việt Nam viết bằng chữ Hán của một tác giả khuyết danh, ra đời vào thời nhà Trần. Đây là một trong các cuốn sử biên niên thuộc hàng sớm nhất của Việt Nam còn được lưu truyền cho đến nay[1], nhưng đã bị sử quan nhà Thanh tên Tiền Hy Tộ đã biên soạn và in ấn lại theo lệnh của vua Càn Long trong thế kỷ 18, chứ không còn nguyên bản nào nên chỉ có tính tham khảo. Sử đời Trần còn nguyên vẹn viết về Đại Việt còn có quyển An Nam Chí Lược của Lê Tắc, một sử quan lưu vong theo Trần Ích Tăc sống đời vong quốc tại Đại Nguyên từ thế kỷ 13 (viết ở thế kỷ 13), thì nhà nước Âu Lạc được Thục Phán (thủ lĩnh bộ tộc Âu Việt) thành lập vào năm 257 TCN sau khi đánh bại vị vua Hùng cuối cùng của nước Văn Lang, ông lên ngôi và lấy niên hiệu là An Dương Vương. Nhà nước này tồn tại đến năm 208 TCN.
Thành Cổ Loa
Hình 3: Ảnh thành Cổ Loa
Dấu tích của thời Âu Lạc để lại đến ngày nay là hệ thống thành Cổ Loa và hàng vạn mũi tên đồng được
khai quật ở gần thành cổ. Thành Cổ Loa được các nhà khảo cổ học đánh giá là "tòa thành cổ nhất, quy
mô lớn vào bậc nhất, cấu trúc cũng thuộc loại độc đáo nhất trong lịch sử xây dựng thành lũy của người Việt cổ".
Thành Cổ Loa theo tương truyền gồm 9 vòng xoáy trôn ốc, nhưng căn cứ trên dấu tích hiện còn, các nhà khoa học nhận thấy thành có 3 vòng,
trong đó vòng thành nội rất có thể được làm về sau, dưới thời Ngô Quyền. Chu vi vòng ngoài 8 km, vòng giữa 6,5 km, vòng trong 1,6 km, diện
tích trung tâm lên tới 2 km². Mặt ngoài lũy dốc thẳng đứng, mặt trong thoải để đánh vào thì khó, trong đánh ra thì dễ. Lũy cao trung bình từ 4–5 m,
có chỗ cao đến 8–12 m. Chân lũy rộng 20–30 m, mặt lũy rộng 6–12 m. Khối lượng đất đào đắp ước tính 2,2 triệu mét khối. Trên địa phận thành, các nhà
khảo cổ đã từng khai quật được nhiều mộ cổ, hàng vạn mũi tên đồng ba cạnh, khuôn đúc mũi tên, rìu lưỡi xéo bằng đồng, trống đồng và thậm chí cả ngói ống